Khám Phá Tiềm Năng và Thách Thức của Khai Thác Khoáng Sản Biển ở Việt Nam Hiện Nay

https://giaphatdanang.com/

Việt Nam, với đường bờ biển dài và vị trí chiến lược, luôn được biết đến là một quốc gia có biển với tiềm năng phát triển kinh tế dồi dào. Không chỉ là cửa ngõ giao thương nhộn nhịp, vùng biển nước ta còn ẩn chứa nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là khoáng sản biển, đóng vai trò then chốt trong sự phát triển bền vững của đất nước. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên quý giá này cũng đặt ra vô vàn thách thức, đòi hỏi một chiến lược quản lý nhà nước hiệu quả và đồng bộ. Bài viết này sẽ cùng bạn đi sâu vào bức tranh tổng thể về tiềm năng, những khó khăn hiện hữu và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản biển ở Việt Nam hiện nay, hướng tới mục tiêu trở thành một quốc gia biển mạnh.

Việt Nam: Quốc gia biển với tiềm năng dồi dào và những thách thức không nhỏ

Biển Việt Nam là một bức tranh đa sắc, hội tụ cả những cơ hội vàng và những mối lo ngại tiềm ẩn, định hình rõ nét tương lai phát triển của đất nước.

Tiềm năng quý giá từ biển Việt Nam

Không thể phủ nhận, biển mang lại cho Việt Nam một lợi thế chiến lược không đâu có được, từ vị trí địa lý đến sự đa dạng của các loại tài nguyên.

  • Vị trí địa chính trị chiến lược: Nước ta sở hữu diện tích biển rộng lớn trên 1 triệu km2, gấp ba lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện diện tích Biển Đông. Với khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trải dài khắp bờ biển, Việt Nam nằm ngay trên tuyến đường hàng hải quốc tế trọng yếu, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Vị trí này không chỉ mở ra cơ hội giao thương, hội nhập kinh tế toàn cầu mà còn tạo thành một “phên giậu”, chiến lũy tự nhiên vững chắc cho quốc phòng, an ninh quốc gia.
  • Tài nguyên sinh vật đa dạng: Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng biển Việt Nam là môi trường lý tưởng cho hàng ngàn loài sinh vật biển phát triển. Khoảng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, bao gồm 6.000 loài động vật tầng đáy, 2.400 loài cá (trong đó có 130 loài cá kinh tế), cùng vô số loài rong biển, tôm biển… Trữ lượng cá biển ước tính lên đến 5 triệu tấn/năm, với khả năng khai thác bền vững khoảng 2,3 triệu tấn. Các vùng eo vịnh và đầm phá ven biển còn là tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ, đóng góp đáng kể vào nguồn lợi hải sản quốc gia.
  • Tài nguyên phi sinh vật phong phú: Bên cạnh nguồn lợi sinh vật, biển và hải đảo Việt Nam còn được đánh giá giàu tài nguyên phi sinh vật. Khoảng 35 loại hình khoáng sản đã được tìm thấy với quy mô trữ lượng khác nhau, thuộc các nhóm nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý. Trong số đó, dầu khí là tài nguyên chiến lược quan trọng nhất ở thềm lục địa, với trữ lượng ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm tới 25% tổng trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông. Ngoài ra, tiềm năng băng cháy – một loại hình năng lượng mới của thế giới – cũng đang được nghiên cứu. Biển còn mang lại tài nguyên nước biển, đất bãi triều, năng lượng gió, thủy triều, và năng lượng mặt trời.
  • Tiềm năng du lịch và dịch vụ biển: Bờ biển dài với nhiều bãi cát đẹp, vịnh biển thơ mộng, hang động tự nhiên độc đáo cùng các bán đảo và đảo lớn nhỏ đã tạo nên một quần thể du lịch hiếm có. Vịnh Hạ Long, hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, là minh chứng rõ ràng nhất cho tiềm năng này. Hàng năm, du lịch biển, đảo thu hút 50-60% tổng lượng khách du lịch đến Việt Nam. Hơn nữa, với các cảng và vịnh, Việt Nam còn có lợi thế phát triển giao thông, khai thác, đánh bắt hải sản và trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải quốc tế trong tương lai (đóng tàu, sửa chữa, tìm kiếm cứu hộ…).

.png)

Những nguy cơ và thách thức hiện hữu

Cùng với những tiềm năng to lớn, việc khai thác khoáng sản biển và phát triển kinh tế biển ở Việt Nam cũng đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức đáng kể.

  • Căng thẳng, tranh chấp trên Biển Đông: Vùng Biển Đông nói chung và biển Việt Nam nói riêng có vị trí địa kinh tế và chính trị cực kỳ quan trọng, là tâm điểm của nhiều tranh chấp chủ quyền phức tạp, dai dẳng giữa các bên. Tình hình này tiềm ẩn những bất trắc khó lường, đe dọa trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh của nước ta trên biển và từ hướng biển. Những can thiệp quân sự, vi phạm luật pháp quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), đã gây ra những nhân tố khó lường về chủ quyền và an ninh.
  • Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu: Áp lực phát triển kinh tế từ đất liền đã thúc đẩy các quốc gia hướng ra biển, khai thác biển. Tuy nhiên, việc khai thác quá “nóng”, mang tính “hủy diệt”, thiếu quy hoạch và quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng, suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái hệ sinh thái biển đến mức báo động. Đặc biệt, biến đổi khí hậu với biểu hiện gia tăng mực nước biển và nhiệt độ toàn cầu đang ảnh hưởng nặng nề đến Việt Nam, gây ra nhiều thiên tai, thiệt hại về người và của, nhất là ở các khu vực ven biển miền Trung. Thực trạng này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về biển phải đa dạng, linh hoạt và hiệu quả hơn.

Hành trình quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên biển tại Việt Nam

Để đối phó với những thách thức và phát huy tối đa tiềm năng biển, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về biển và hải đảo, với những tư duy và cách tiếp cận có sự thay đổi rõ rệt qua các giai đoạn.

Giai đoạn đầu đổi mới (1990 – 2009): Quản lý phân tán và những hạn chế

Trong giai đoạn này, cách tiếp cận quản lý nhà nước về biển, đảo chủ yếu dựa trên góc độ quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật. Điều này dẫn đến một bộ máy quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển được tổ chức theo phương thức phân tán, manh mún, mỗi ngành tự quản lý theo đặc thù riêng mà thiếu đi một đầu mối thống nhất, điều phối chung.

Các bộ, ngành thực hiện quản lý biển, đảo dựa trên các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Hàng hải (1990), Luật Dầu khí (1993), Luật Bảo vệ môi trường (1993), Luật Khoáng sản (1996), Luật Thủy sản (2003) và nhiều luật khác. Việc ban hành chương trình, kế hoạch liên quan đến khai thác biển và hải đảo chỉ được thực hiện ở từng bộ, ngành mà chưa có sự phối hợp chặt chẽ. Tình trạng chồng chéo trong quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển là điều khó tránh khỏi. Trong khi các hoạt động trên biển có mối liên hệ mật thiết, việc tách rời quản lý theo từng ngành đã bộc lộ nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, làm chậm quá trình phát triển kinh tế biển và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển của đất nước.

Từ năm 2009 đến nay: Hướng tới quản lý tổng hợp và thống nhất

Nhận thức được những hạn chế của phương thức quản lý phân tán, từ năm 2009, Việt Nam đã chuyển sang cách tiếp cận quản lý tổng hợp dựa trên hệ sinh thái.

  • Những văn bản pháp lý quan trọng:

    • Nghị định số 25/2009/NĐ-CP (06/3/2009): Là văn bản pháp lý tiên phong về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo phương thức quản lý tổng hợp.
    • Luật Biển Việt Nam 2013: Được Quốc hội ban hành, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý, sử dụng và bảo vệ biển.
    • Nghị định số 51/2014/NĐ-CP (21/5/2014): Quy định chi tiết về việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên biển.
    • Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015: Là văn bản ở tầm luật đầu tiên quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, làm rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
    • Nghị quyết số 36-NQ/TW (22/10/2018): Về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, đặt mục tiêu tổng quát là “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển”.
  • Cơ cấu tổ chức quản lý hiện hành: Dựa trên các quy định pháp luật mới, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển ở nước ta hiện nay được tổ chức theo hai phương thức chính:

    • Cơ quan quản lý theo ngành: Mỗi lĩnh vực trên biển được quản lý bởi một bộ máy chuyên trách từ Trung ương đến địa phương, quy định trong pháp luật chuyên ngành.

      • Ở Trung ương:
        • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Quản lý về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi tại các vùng biển, ven biển và hải đảo.
        • Bộ Tài nguyên và Môi trường: Quản lý hoạt động khai thác đất bãi bồi ven biển, đất mặt nước ven biển, tài nguyên nước biển và khoáng sản biển.
        • Bộ Công Thương: Quản lý công nghiệp khai thác khoáng sản biển, bao gồm dầu khí.
        • Bộ Xây dựng: Quản lý khai thác khoáng sản biển làm vật liệu xây dựng.
        • Bộ Giao thông vận tải: Quản lý giao thông vận tải biển, công nghiệp đóng tàu.
        • Bộ Thông tin và Truyền thông: Quản lý hoạt động khai thác lòng đất dưới đáy biển để lắp đặt cáp viễn thông.
        • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Quản lý văn hóa và du lịch biển.
        • Bộ Ngoại giao: Quản lý ngoại giao và thống nhất quản lý biên giới quốc gia trên biển.
        • Bộ Quốc phòng: Đóng vai trò nòng cốt trong thực thi pháp luật và phòng thủ khu vực biên giới biển, đảo.
        • Bộ Công an: Quản lý an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng công an nhân dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên các vùng biển, hải đảo.
        • Ngoài ra, nhiều cơ quan khác cũng có chức năng liên quan đến khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.
      • Ở địa phương: Các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng giúp UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển thực hiện chức năng quản lý tương ứng.
    • Cơ quan quản lý tổng hợp: Đây là cách tiếp cận hệ thống, dựa vào hệ sinh thái, hướng tới quản lý liên ngành, liên vùng, đảm bảo lợi ích quốc gia hài hòa với lợi ích các ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân.

      • Theo Điều 73, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý tổng hợp.
      • Ở các tỉnh, thành phố ven biển, Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý tổng hợp về biển và hải đảo, thông qua các phòng/chi cục biển, hải đảo trực thuộc.
      • Việc quản lý tổng hợp không thay thế quản lý theo ngành/lĩnh vực mà khẳng định vai trò điều chỉnh, kết nối các hoạt động phát triển (khai thác, sử dụng) của các ngành, lĩnh vực, đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả. Các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm báo cáo định kỳ tình hình quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển về Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phương thức quản lý tổng hợp đã bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần tích cực vào công tác quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như công tác phối hợp giữa bộ, ngành và địa phương chưa thực sự thống nhất, thiếu gắn kết; cơ chế điều phối còn vướng mắc trong việc vượt qua lợi ích cục bộ; phương pháp phối hợp nội bộ hệ thống chưa rõ ràng; và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tổng hợp còn thiếu kinh nghiệm, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công việc.

Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý khai thác khoáng sản biển bền vững

Để tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo tại Việt Nam, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

  • Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách: Cần rà soát, bổ sung và xây dựng mới hệ thống chính sách, pháp luật về biển, hải đảo theo hướng phát triển bền vững. Các văn bản cần đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, không chồng chéo với các luật chuyên ngành và tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, cần thể hiện rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, có tính khả thi, gắn với yêu cầu phân cấp, cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. Việt Nam cũng cần chủ động tham gia và thúc đẩy các cơ chế khu vực, toàn cầu liên quan đến biển và đại dương.
  • Rà soát, điều chỉnh quy hoạch biển: Thực hiện rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới các quy hoạch liên quan đến biển, hải đảo. Điều này phải đảm bảo tính liên kết, đồng bộ giữa các ngành, địa phương; quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch không gian biển phục vụ đa ngành, đáp ứng mục tiêu và đa lợi ích của các bên liên quan. Cần tạo hành lang pháp lý, thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực biển.
  • Kiện toàn bộ máy quản lý: Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển từ Trung ương đến địa phương. Các cơ quan cần được kiện toàn theo hướng hiện đại, đồng bộ, có đủ thẩm quyền và năng lực thực thi nhiệm vụ. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và chuyên môn cao, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý biển. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, giữa Trung ương với địa phương trong công tác khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển.
  • Giải quyết triệt để mâu thuẫn, chồng chéo: Các vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo cần được giải quyết một cách cơ bản, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên trên quan điểm phát triển bền vững. Cần bãi bỏ các quy định bất cập, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, kịp thời bổ sung quy định cho những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn. Những vấn đề đã có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thì cần có quy định chi tiết, rõ ràng.

Thực hiện đồng bộ những giải pháp này sẽ giúp hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển ở Việt Nam ngày càng được củng cố, hoàn thiện. Đây là nền tảng vững chắc để đạt được mục tiêu Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: từng bước đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển một cách bền vững.


Tài liệu tham khảo:

  1. Hữu Thành, Vị trí tầm quan trọng của biển đảo, http://baodongkhoi.vn/vi-tri-tam-quan-trong-cua-bien-dao-31052017-a12931.html
  2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Công văn số 255/BTNMT-TCBHĐVN ngày 16/01/2019 về việc phối hợp thực hiện trong quản lý nhà nước về tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Tác giả: ThS Đào Thị Tùng – Học viện Chính trị Khu vực III, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh